Sống trong đời sống cần có một tấm lòng!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lí luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lí luận văn học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Một số nét văn hóa của cộng đồng qua bài ca dao “Hôm qua tát nước đầu đình”

Đề bài
Tìm hiểu một số nét văn hóa của cộng đồng qua bài ca dao “Hôm qua tát nước đầu đình”.
Bài làm:
Từ thuở ban sơ trên đất nước Việt Nam, ca da đã đi vào trái tim những cụ già cầm ống điếu, của những cô thôn nữ, những chàng thanh niên hay những đứa trẻ thơ tóc còn để chỏm. Hòa nhịp với cuộc sống lao động vất vả, khổ cực nhưng chan hòa tiếng hát yêu thương, ca dao nhịp nhàng cùng tiếng chày giã gạo, căng tròn trong những hạt lúa chín đầu mùa. Thời gian trôi đi cùng với những lo toan muộn phiền của cuộc sống nhưng đọng lại ở tâm hồn mỗi người Việt từ ngàn xưa những âm, những vần ca dao tâm tình, tha thiết. Cũng chính trong cuộc sống lao động ấy, tình yêu đất mẹ, tình yêu gia đình trỗi dậy, mang lại một sức sống tiềm tàng mạnh mẽ, mang nhịp đập và hơi ấm của con tim. Quả thật, sức mạnh vô hình của ca dao là từ những cái hữu hình thêu dệt nên. Ca dao như nắm bắt được tất cả những ánh mắt, tiếng cười, những vui buồn của cuộc sống, những rung động vô cùng tinh vi của tự nhiên,… Nói một cách khác, ca dao chính là hơi thở của cuộc sống, là bầu sữa nóng nuôi dưỡng tâm hồn và là bể sâu của tình yêu và trí tuệ. Hôm qua, hôm nay và ngày mai, chắc chắn ca dao luôn là người bạn tri âm, tri kỷ không thể nào thay thế được.
Ngôn ngữ của mỗi dân tộc được hình thành và có mối quan hệ với văn hóa. Ngôn ngữ hình thành và phát triển cùng với loài người còn văn hóa là dấu mốc thể hiện giai đoạn phát triển cao của loài người. Ngôn ngữ là một thành tố quan trọng bậc nhất của văn hóa, nó ghi lại những dấu ấn văn hóa của cộng đồng mỗi dân tộc. Tùy vào từng thời kì, từng giai đoạn lịch sử khác nhau mà ngôn ngữ lại khác những hình tượng văn hóa tận sâu trong vốn tiềm thức của mình. Ở mỗi thể loại văn học, ngôn ngữ lại có những chức năng và ảnh hưởng khác nhau tới văn hóa. Thực tế lịch sử văn học đã cho thấy: những tác phẩm văn học trường tồn của một dân tộc là những tác phẩm ghi lại được những dấu ấn văn hóa của thời đại, của những cộng đồng bằng chính vốn ngôn ngữ của dân tộc đó.
Ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian. Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm về nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ nhớ và luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua nhiều thế hệ. Chính vì vậy, nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái tình mặc dù từ ngữ có thay đổi ở một vài dị bản. Hầu hết các bài ca dao của người Việt đều ít nhiều đề cập đến những giá trị văn hóa của vùng miền, dân tộc. Ở mỗi bài, lại được cảm ở những góc độ khác nhau, điều đó sẽ mang đến những giá trị cho các tác phẩm dân gian.
Bài ca dao “Anh đi anh nhớ quê nhà” là một trong số nhiều trường hợp như vậy:
“Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương,
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.”
Bài ca dao chỉ có bốn câu và được lưu hành khá rộng rãi và tương đối thống nhất. Nói như vậy là vì cũng có một vài dị bản nhỏ về từ ngữ mà không ảnh hưởng đến chủ đề của tác phẩm. Chẳng hạn như câu một: “Anh đi anh nhớ quê nhà” có bản ghi là “Ra đi anh nhớ quê nhà”; câu thứ ba có bản ghi là: “Nhớ ai dãi nắng dầu sương”; câu 4 có bản ghi là “Nhớ ai tát nước bên đường hôm mai”.
Bài ca dao rất ngắn, lời lẽ rất giản dị, dễ hiểu và được làm theo thể thơ “lục bát” – thể thơ được coi là truyền thống của dân tộc. Thơ lục bát là thơ của Việt Nam, cũng giống như thơ Đường luật của Trung Quốc, thơ Haiku của Nhật Bản và nhiều thể thơ khác của các dân tộc trên thế giới. Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là cây tre; nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen; nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài,… cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện cho thơ Việt, đó hẳn phải là lục bát. Không phải bàn cãi nhiều khi có nhà nghiên cứu cho rằng: “Chừng nào “Truyện Kiều” còn, tiếng Việt chắc chắn sẽ còn…” đã cho thấy tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của thể thơ này.
Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất. Có thể nói, người Việt sống trong bầu thi quyển lục bát. Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát. Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền chủ yếu bằng lục bát. Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nói cho các lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát,... Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải tỏa tâm sự, ký thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn. Thơ dễ làm, dễ thuộc và ai cũng có thể làm cho dù là người biết chữ hay không. Một bài thơ lục bát có thể dài đến vô cũng ("Truyện Kiều" của Nguyễn Du) nhưng lại có thể ngắn đến chỉ một cặp câu với mười bốn chữ nhưng vẫn hội tụ đủ nội dung và nghệ thuật của một bài thơ. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này.
Qua bài thơ, ta thấy chủ thể trữ tình chính là chàng trai, lời tâm tình của chàng tưởng chừng ai cũng hiểu như nhau, chẳng có chuyện gì phải phân tích, bàn cãi nữa. Thế nhưng đọc kỹ tác phẩm và dựa trên những kiến thức nhất định về văn hóa, thực tế trong bài ca dao đã gợi ra cho ta ít nhất hai cách hiểu khác nhau rõ rệt mà chúng đều có cơ sở, lí do để tồn tại.
Cách hiểu thứ nhất nhấn mạnh vào nỗi “nhớ quê nhà” của chàng trai lúc phải đi xa hoặc đã đi xa rồi nên đã có nhiều ý kiến xếp bài ca dao vào chủ đề tình cảm quê hương đất nước.
Chủ đề “quê hương” trong văn học vốn đã có từ trước đây và luôn song hành với mỗi người Việt Nam trong những chặng đường của cuộc sống. Trong thơ văn, “Quê hương” của Giang Nam có hoa, có bướm, “có những ngày trốn học bị đòn roi”,…; “Quê hương” của Đỗ Trung Quân là “chùm khế ngọt”, là “con đò nhỏ”, là “cánh diều”, là “cầu tre nhỏ”,… còn quê hương của chàng trai xa quê trong bài ca dao này là “canh rau muống”, “cà dầm tương”, là những con người “dãi nắng dầm sương”, là ai đó “tát nước bên đường hôm nao”. Điều ấy cũng thật tự nhiên và hợp lí.
Nội dung cảm hiểu phổ biến ở đây là: lời tâm tình của chàng trai lúc đi xa, nỗi nhớ quê của chàng được biểu hiện một cách cụ thể: nhớ những món ăn bình dị của quê hương, nhớ người dân quê dãi nắng dầu sương, nhớ những kỉ niệm về người mình yêu.
Quê hương – chiếc nôi cuộc đời của mỗi con người. Đó là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, tất cả tuổi thơ ta lớn lên từ đó. Những hình ảnh thân quen nơi quê nhà làm cho nỗi nhớ trong người đi xa càng da diết… Nỗi nhớ đầu tiên và cũng là nỗi nhớ bao trùm nhất tất cả, đó là quê nhà.
“Anh đi anh nhớ quê nhà…”, giản dị vậy thôi, “anh có một quê” một nơi sinh ra và lớn lên, có bao nhiêu kỷ niệm, khi đi xa, thì anh “nhớ” về. Những ký ức thật riêng, thật sống động ở đó, nỗi nhớ mái nhà nơi anh sinh ra, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh em, nhớ bạn bè. Dù tới nơi mới, có bao nhiêu mới mẻ, vui vẻ thì trong tâm khảm vẫn luôn có chỗ cho “quê nhà”. Ai cũng có một quê hương,có thể là nơi anh sinh ra mà cũng có thể là xuất phát điểm của anh tới với cuộc đời này. Khi có những thế hệ sau dù không sinh ra cùng địa điểm với anh, thì “quê” trong tâm hồn anh cũng phả vào đời sống của thế hệ mới thành điều gì đó bí ẩn, nôn nao. Quê hương đó và những kỷ niệm gắn liền đã thành một phần con người anh. Nỗi nhớ quê vừa là lẽ tự nhiên như con người luôn nhớ về những gì đã qua lại vừa đặc biệt.
Anh nhớ quê nhà và “Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Nỗi nhớ được cụ thể hóa thành “canh rau muống”, “cà dầm tương” vốn là những món ăn đơn sơ, dễ kiếm và thân thuộc với những người bình thường. Rau muống luộc và cà dầm với nước tương có lẽ không chỉ riêng cho người nghèo mà với mọi nhà. Tuy nhiên, với những người nghèo thì chỉ cần bát canh rau muống và quả cà, mà lại cà dầm tương đã quá là trọn vẹn. Ai đã xa quê mới cảm nhận được cái gọi là “xa quê”. Khi xa quê, người ta thường nhớ đến tất cả những gì thân quen đọng lại trong tiềm thức, từ  những món ăn đơn sơ nhưng gắn bó, những món ăn chỉ ngon khi được ăn ở quê nhà, khi được trồng ở đất quê đó và nấu theo cách của người quê đó. Ở đâu dường như cũng có rau muống, nhưng quả thật không thể so sánh được với những cọng rau muống nhỏ nhỏ, giòn ngọt, thơm thơm ở quê lớn và quê nhỏ. Ăn một bữa cơm mà có những đũa rau muống non xanh được chấm với bát nước tương tự làm có vị chua chua, lại có cái mằn mặn của cà muối và nước canh rau muống vắt thêm chút chanh mới thấu hiểu hết được những cái ngon và những cái được gọi là “sướng – khổ” của cuộc đời. “Canh rau muống, cà dầm tương” có lẽ là món ăn nông thôn miền Bắc, nhưng người của quê nào thì sẽ nhớ về những thân thương, gắn bó của riêng miền quê đó. Làm sao hiểu hết nỗi lòng những người phải xa quê vì những lý do ngoài ý muốn, càng khắc khoải hơn và đôi khi còn là những nỗi đau không vơi cạn qua ngày tháng. Ai xa quê cũng muốn điều tốt lành nhất cho quê hương mình, quê hương giữ những điều không thể mất, mà có khi cũng chẳng lấy lại được trong ký ức, ước vọng.
“Nhớ ai dãi nắng dầm sương…” diễn tả tâm hồn yêu lao động, hiểu lao động của người đi xa. Người nông dân phải “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, vất vả lắm mới làm ra được hạt gạo trắng ngần, thơm ngon. Đọc câu thơ này, ta như liên tưởng đến câu thơ “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, xàng…” trong “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm. Ta cũng thấy hiển hiện đâu đó những hình ảnh của ca dao “Cày đồng đang buổi ban trưa – Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày – Ai ơi bưng bát cơm đầy – Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”. Ắt phải những người lao động, yêu lao động và trân trọng những giá trị của lao động thì mới giữ trong lòng những hình ảnh thân thuộc ấy.
Câu thơ cuối như dồn dập trào dâng nhiều nỗi nhớ, nhất là hình ảnh cô thôn nữ có đôi tay mềm mại, dịu dàng với vẻ đẹp tự nhiên được tôn lên trong lao động:“Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”.
Cách cảm, cách hiểu thứ nhất đã nêu trên quả thực không sai, tuy nhiên nó chưa thể hiện được chiều sâu của tác phẩm thơ dân gian. Đồng thời, nó cũng chưa cho thấy tâm hồn người thanh niên nông thôn Việt Nam với những nét văn hóa ẩn chứa sâu ở bên trong. Ta nên tìm đến cách hiểu thứ hai – cách hiểu nhấn mạnh vào nỗi “nhớ ai” ở hai câu cuối và coi chủ đề bài ca dao là nói về tình yêu đôi lứa.   
Nỗi nhớ quê nhà của chàng trai gắn liền với nỗi nhớ người yêu và cả hai nỗi nhớ đều chân thực, thiết tha. Đó là nội dung trực tiếp được thể hiện để qua đó chàng trai bày tỏ tình yêu đối với người bạn gái.
Với cách hiểu này thì đại từ “ai” trong hai câu cuối bài ca dao không phải chỉ người vợ mà là người bạn tình của chàng trai. Rõ ràng, ngay câu thơ đầu tiên đã cho ta những thông tin về lập luận này. Bởi vì người ta không thể xưng “anh” với mọi người, càng không thể xưng “anh” với ông bà, cha mẹ, bạn bè hay những người thân thuộc,… Vậy thì ở đây chàng trai chỉ có thể xưng hô như vậy với một trong ba đối tượng là: người em, người vợ hoặc người yêu.
Với em mà gọi bằng “ai” (ở câu cuối) là không hợp lí. Với vợ thì cũng có thể được nhưng hơi nghe có cảm giác như hời hợt và khách sáo. Như vậy “ai” (ở câu cuối) không phải là đại từ phiếm chỉ mà nó hướng đến một đối tượng cụ thể là người trong mộng của chàng trai.
Bất kì một lời văn trong các tác phẩm văn học khi được người nghệ sĩ (dân gian hay hiện đại) “dụng công” đều có sự liên quan đến ngữ cảnh của xuất hiện nó. Có thể, nó không bày ra ngay trước mắt chúng ta những câu chuyện, những hình ảnh nhưng ít nhất là với lợi thế của mình, bản thân ngôn ngữ và sự chọn lọc tinh tế của các tác giả vô hình trung đã tác động vào tư duy mỗi người và là cơ sở để tâm hồn họ bay bổng, liên tưởng một cách chân thực về câu chuyện mà họ được nghe, được đọc.
Có thể liên tưởng đến câu chuyện chàng trai trong bài ca dao đã chú ý đến cô gái nhưng chưa một lần thổ lộ, tình yêu của họ đang ở buổi ban đầu, đầy e ấp, khó nói. Giờ đây khi sắp sửa xa quê chàng trai mới mạnh dạn gặp cô gái để giãi bày tâm sự. Và dường như cô gái cũng thiết tha dò hỏi về điều đó, để xem khi đi xa chàng trai nhớ những gì và nhớ những ai. Lời thơ có lẽ rất phù hợp với hoàn cảnh ấy.
Đã có một số người phân tích cụm từ "anh đi"  và cho rằng anh đi vì nghĩa lớn, nghe theo tiếng gọi quê hương đất nước (hoàn cảnh chiến tranh, thi cử, lập nghiệp,...) là quá đà, không cần thiết, có phần gượng ép, không phục vụ cho tìm hiểu chủ đề tác phẩm. Bởi vì điều quan trọng không phải là anh đi đâu mà là cái chủ định chàng trai muốn nói.
Ở câu thứ nhất: “Anh đi anh nhớ quê nhà” nỗi nhớ của chàng trai còn chung chung, chưa cụ thể, nhưng cô gái cũng rất yên tâm và chứa chan hi vọng. Vì chàng trai xưng anh với cô gái rất ngọt ngào, thân mật. Chàng trai nói ra đi anh nhớ quê nhà và tất nhiên trong quê nhà có cả hình bóng cô gái.
Đến câu thứ hai, chàng trai cụ thể nỗi nhớ quê bằng các chi tiết “Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”. Đó là những thức ăn quen thuộc ai mà chẳng thèm chẳng nhớ. Nhưng nếu chỉ nhớ có vậy thì cô gái đang hồi hộp lắng nghe lời tâm tình của chàng chắc sẽ thất vọng lắm.
Sang câu thứ ba: “Nhớ ai dãi nắng dầu sương” cô gái không thể không liên tưởng đến mình, nhưng không thể hoàn toàn khẳng định chắc chắn là chàng trai nói nhớ mình. “Ai” trong trường hợp này có thể là một đại từ phiếm chỉ cũng có thể chỉ người con gái. Còn với chàng trai thì nói như vậy vừa kín vừa hở!
Đến câu cuối, chắc chắn đã hiểu được thái độ và diễn biến tình cảm của cô gái nên chàng trai mới nói một cách tế nhị nhưng hết sức cụ thể và xác định: “Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”. “Ai” chính là em, “hôm nao” là cái hôm mà cả hai người đều không thể nào quên khi tát nước bên đường. Câu cuối thể hiện rõ thời gian và không gian gắn với kỉ niệm của hai người. Nói như vậy vừa có tính xác định và cụ thể cao.
Cách bộc bạch và thể hiện tình cảm hết sức tài tình, vừa kín đáo, tế nhị: từ xa đến gần, từ chung đến riêng, từ phiếm chỉ đến xác định đã cho ta thấy một đặc điểm rất lớn về văn hóa giao tiếp của người Việt. Đó chính là cách nói vòng vo, dông dài, dẫn dắt mãi mới đến câu chuyện, ý định mình cần nói. Đồng thời, đại từ xưng hô trong bài ca dao cũng có sự chuyển hướng linh hoạt theo ý muốn của người đang nói. Cách xưng hô “anh” – “ai” chứng tỏ chàng trai rất e dè, thận trọng. Suốt cả bài ca dao chàng trai ở đây đã né tránh không đụng chạm đến một từ “yêu”, “thương” nào cả. Người ta e dè vì chưa biết tình cảm của đối phương dành cho mình thế nào, người ta cẩn trọng nghĩ đến hậu quả nếu không may bị từ chối cũng chính là cách tỏ tình của thanh niên nông thôn ngày trước. Ta có thể hiểu hơn về lối nói này qua cách xưng hô “em – cô ấy” của chàng trai trong bài ca dao “Hôm qua tát nước đầu đình” thân thuộc.
Tất cả sự yêu thương dường như dồn vào điệp ngữ “nhớ”, được nhắc đi nhắc lại đến năm lần, mỗi lần một cung bậc, một nội dung khác nhau và càng về sau càng cụ thể, tha thiết; đồng thời điệp ngữ nghi vấn “Nhớ ai” vừa hỏi vừa tự trả lời, bộc bạch một nỗi nhớ sâu xa, kín đáo.
Người xưa đã đóng góp cho kho tàng văn học dân gian những áng thơ hay mà thật dung dị, chân thành, tha thiết biết bao. Những câu ca dao mang đậm tâm hồn dân tộc vẫn luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu. Biết thưởng thức những câu ca dao hay khiến ta thêm yêu giá trị văn hoá mà ông cha chúng ta đã chắt lọc từ cuộc sống để lại cho con cháu đời sau. Ngày nay, chúng ta được thưởng thức nhiều tác phẩm tuyệt vời trong dòng chảy của văn học nghệ thuật đương đại. Song, những câu ca dao mang đậm tâm hồn dân tộc, ngợi ca những đức tính, bản lĩnh, phẩm chất và truyền thống tốt đẹp của dân tộc vẫn luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu. Biết thưởng thức, biết yêu những làn điệu dân ca, những câu ca dao, ngạn ngữ, tục ngữ ta thêm yêu cội nguồn bản sắc và những giá trị văn hoá mà ông cha chúng ta đã chắt lọc từ cuộc sống.


Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013

KỊCH BẢN VĂN HỌC.


KỊCH BẢN VĂN HỌC.
                                      -----------------------------------------------------
1. Kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu.
Không nên đồng nhất kịch và kịch bản văn học. Nói đến kịch là nói đến một loại hình của nghệ thuật sân khấu mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễn viên, đạo diễn, hóa trang, ánh sáng, âm thanh... Kịch bản văn học chỉ là một yếu tố, dù đó có thể là một trong những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch
Là một trong 3 loại chính của văn học, kịch bản trước hết tự nó phải là một tác phẩm  hoàn chỉnh và độc lập, thể hiện đầy đủ những đặc điểm của một tác phẩm  văn học. Tuy nhiên, kịch bản văn học được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu trước một tập thể khán giả trong một thời gian nhất định nên nghệ thuật sân khấu qui định hết sức chặt chẽ quá trình sáng tác kịch bản văn học của nhà văn. Sự qui định đó có thể được thể hiện ở nhiều mặt. Trước hết là về dung lượng phản ánh của kịch bản văn học. Nhà văn không thể xây dựng kịch bản với một thời gian quá dài với nhiều nhân vật qua những không gian rộng lớn như trong tiểu thuyết. Ngoài ra, nhân vật còn phải "sân khấu hóa" tất cả những gì được miêu tả. Những sự kiện, diễn biến của cốt truyện phải được xây dựng thế nào cho phù hợp với việc thể hiện một cách trực tiếp trên sân khấu thông qua hành động, ngôn ngữ của diễn viên. Như vậy, có thể nói, kịch bản là một tác phẩm  văn học hoàn chỉnh nhưng đồng thời gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật sân khấu. Chính nghệ thuật này đã qui định những đặc điểm của kịch bản văn học.
2. Xung đột kịch.
Kịch bắt đầu từ xung đột. "Xung đột là cơ sở của kịch" (Pha đê ép). Hiểu theo nghĩa hẹp, xung đột trong tác phẩm  kịch là sự phát triển cao nhất sự mâu thuẫn của hai hay nhiều lực lượng đối lập thông qua một sự kiện hay một diễn biến tâm lí cụ thể được thể hiện trong mỗi màn, mỗi hồi kịch. Có thể có rất nhiều loại xung đột khác nhau. Có xung đột biểu hiện của sự đè nén, giằng co, chống đối giữa các lực lượng, có xung đột được biểu hiện qua sự đấu tranh nội tâm của một nhân vật, có xung đột là sự đấu trí căng thẳng và lí lẽ để thuyết phục đối phương giữa hai lực lượng...Do tính chất sân khấu qui định cho nên trong khi phản ánh hiện thực, tác giả kịch bản buộc phải bước vào những mâu thuẫn trong cuộc sống đã phát triển đến chỗ xung đột, đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác. Vì vậy, có thể nói, xung đột là đặc điểm cơ bản của kịch. Hégel cho rằng " tình thế giàu xung đột là đối tượng ưu tiên cảu nghệ thuật kịch".
Xung đột kịch cần phải phản ánh những mâu thuẫn cơ bản của xã hội và thời đại, nói cách khác là luôn mang tính lịch sử cụ thể. Ơí những thời đại khác nhau có những xung đột khác nhau. Ở  thời cổ đại, đó là sự xung đột giữa thế giới quan thần linh, tư tưởng định mệnh với khát vọng làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân của con người. Trong xã hội nô lệ, đó là xung đột giữa những người nô lệ muốn đấu tranh giành lại tự do với bọn chủ nô. Trong xã hội phong kiến, đó là xung đột giữa một bên là uy quyền của vua chúa, quan lại với người dân bị áp bức và đòi được giải phóng. Trong thời kì hiện đại, các xung đột thưòng xoay quanh những vấn đề cách mạng và phản cách mạng, cái thiện, cái ác, cái mới, cái cũ, cái tốt, cái xấu...
Xung đột kịch do tính chất sân khấu qui định đồng thời xung đột làm cho kịch có tính sân khấu. Sức hấp dẫn của một vở kịch là ở chỗ nhà văn phải phát hiện, nêu ra và giải quyết các xung đột lớn nhỏ trong vở kịch. Các yếu tố khác của kịch phải góp phần tô đậm xung đột và dẫn đến một kết cục sâu sắc, gần gũi với những vấn đề của cuộc sống
3. Hành động kịch.
Xung đột kịch được triển khai thông qua các hành động. Hành động là cơ sở của tác phẩm  kịch. Hành động là những hoạt động bao gồm cả ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, quan hệ...của con người trong cuộc sống xung quanh. Trong kịch, hành động được thể hiện qua suy nghĩ của nhân vật, qua hành vi, động tác, ngôn ngữ của họ.
Trong mỗi vở kịch, mỗi diễn viên sẽ có một hệ thống hành động chính gọi là hành động xuyên nhằm thể hiện tư tưởng trọng tâm của nhân vật. Trong Roméo và Juliette của Shakespeare tất cả những động tác, cử chỉ, lời nói của hai nhân vật luôn gắn liền với ý thức bảo vệ và hy sinh cho tình yêu. Qua hàng loạt các hành động của các tính cách, các xung đột của vở kịch được bộc lộ.
4. Nhân vật kịch.
Một vở kịch được diễn trên sân khấu, chỉ có nhân vật đi lại, nói năng, hoạt động. Trong kịch bản văn học, ngoài nhân vật, còn có những lời chỉ dẫn về cảnh vật, con người thường được in nghiêng được tác giả viết nhằm gợi ý cho sự dàn dựng của nhà đạo diễn chứ không phải cho người xem. Vì vậy, có thể nói trên sân khấu chỉ có nhân vật hành động. Tất cả mọi sự việc đều được bộc lộ thông qua nhân vật.
Ðiểm khác nhau cơ bản giữa tác phẩm  kịch với tác phẩm  tự sự và kí là kịch không có nhân vật người kể chuyện. Maxim Gorki cho rằng : "Kịch, bi kịch, hài kịch là thể loại khó nhất trong văn học, khó là vì một vở kịch đòi hỏi mỗi nhân vật trong vở kịch phải thể hiện tính cách bằng lời nói và hành động không có lời mách bảo, gợi ý của tác giả. Các nhân vật kịch được hình thành là do lời lẽ của họ và tuyệt đối chỉ do những lời lẽ ấy mà thôi nghĩa là tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không phải bằng ngôn ngữ miêu tả".
Tác phẩm  kịch được viết ra chủ yếu là để diễn trên sân khấu, bị hạn chế bởi không gian và thời gian nên số lượng nhân vật không thể quá nhiều như trong các tác phẩm  tự sự và cũng không được khắc họa tỉ mỉ, nhiều măt. Do đó, tính cách nhân vật trong kịch tập trung, nổi bật và xác định nhằm gây ấn tượng mãnh liệt và sâu sắc cho khán giả. Hiển nhiên sự nổi bật, tập trung đó không có nghĩa là đơn giản, một chiều. Xoay quanh một nét tính cách khác, vừa liên đới, vừa biến thái làm cho gương măt của nhân vật sinh động và đa dạng.
Nhân vật của kịch thường chứa đựng những cuộc đấu tranh nội tâm. Do đặc trưng của kịch là xung đột nên khi đứng trước những xung đột đó, con người bắt buộc phải hành động và vì vậy, con người không thể không đắn đo, suy nghĩ, cân nhắc, băn khoăn, dằn vặt...Dĩ nhiên đặc trưng này cũng được thể hiện trong các loại văn học khác nhưng rõ ràng được thể hiện tập trung và phổ biến nhất trong kịch. Chính từ đặc điểm này, nhiều tác giả kịch đã dùng biện pháp lưỡng hóa nhân vật nhằm biểu hiện cuộc đấu tranh nội tâm của chính nhân vật đó.
5. Ngôn ngữ kịch.
Một phương tiện rất quan trọng để bộc lộ hành động kịch là ngôn ngữ. Trong kịch không có nhân vật người kể chuyện nên không có ngôn ngữ người kể chuyện. Vở kịch được diễn trên sân khấu chỉ có ngôn ngữ nhân vật. Có thể nói đến 3 dạng ngôn ngữ nhân vật trong kịch: đối thoại, độc thoại và bàng thoại.
Ðối thoại là nói với nhau, là lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật. Ðây là dạng ngôn ngữ chủ yếu trong kịch. Các lời đối thoại trong kịch phải sắc sảo, sinh động và có tác dung hỗ tương với nhau nhằm thể hiện kịch tính.
Ðộc thoại là lời nhân vật tự nói với mình, qua đó bộc lộ những dằn vặt nội tâm và những ý nghĩa thầm kín. Ðây là biện pháp quan trọng nhất nhằm biểu hiện nội tâm nhân vật nhưng không phải là biện pháp duy nhất. Ðể biểu hiện nội tâm, bên cạnh độc thoại, người ta có thể thay thế bằng những phút yên lặng, những tiếng vọng, tiếng đế...
Bàng thoại là nói với khán giả. Có khi đang đối đáp với một nhân vật khác, bỗng dưng nhân vật tiến gần đến và hướng về khán giả nói vài câu để phân trần, giải thích một cảnh ngộ, một tâm trạng cần được chia xẽ, một điều bí mật: loại này chiếm tỉ lệ thấp trong ngôn ngữ kịch.
Các dạng ngôn ngữ của kịch đòi hỏi phải mang tính khấu ngữ, động tác hóa và tính cách hóa. Trước hết, đó là những lời đối thoại thông thường trong cuộc sống, phải có tác dụng khắc họa tính cách, nghề nghiêp, tuổi tác, trình độ văn hóa...của nhân vật. Nó mang sắc thái riêng của từng tình cách, do từ miệng nhân vật nói ra, chứ không phải do tác giả. Ngôn ngữ trong kịch đòi hỏi phải gắn liền mật thiết với động tác, điều này íup người xem hiểu được những suy nghĩ, tâm tư nhân vật. Ngay trong trường hợp chỉ nghe kịch trong radio, người nghe cũng cảm được sắc mặt, họat động và trạng thái tâm lí của nhân vật.
Ngôn ngữ nhân vật kịch đòi hỏi người viết phải có một vốn hiểu biết phong phú và sâu rộng về quàn chúng, nắm được cách nói đa dạng cảu quần chúng, điều này quan trọng đối với mọi nhà văn nói chung nhưng đặc biệt là đối với người viết kịch.
6. Phân loại kịch.
Có nhiều cách phân loại kịch khác nhau. dựa trên phương thức biểu diễn, có thể phân ra các loại: ca kịch, vũ kịch, kịch nói, kịch câm...Dựa trên dung lượng, ta có kịch ngắn, kịch dài..Cách phân loại phổ biến nhất là dựa trên đặc điểm và nội dung của xung đột kịch. Theo cách phân loại này, ta có bi kịch, hài kịch và chính kịch (kịch drame).
Bi kịch là một thể loại kịch mà xung đột chủ yếu nằm ở giữa "yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không tài nào thực hiện được điều đó trong thực tế" (Enghel). Bi kịch đưa lên sân khấu những con người lương thiện, dũng cảm, có những ham muốn mãnh liệt với những cuộc đáu tranh căng thẳng, khốc liệt đối với cái ác, cái xấu nhưng do điều kiện lịch sử,họ phải chịu thất bai. Thất bại của họ gợi lên ở khán giả "sự xót thương và sự sợ hãi để thanh lọc tình cảm" (Aristote) hoặc "để ca ngợi, biểu dương ý chí luôn luôn vươn lên của con người trước những sức mạnh mù quáng của các thế lực hắc ám" (Biêlinxki).
Hài kịch là thể loại kịch nói chung được xây dựng trên những xung đột giữa các thế lực xấu xa tìm cách che đậy mình bằng những lớp sơn hào nhoáng, giả tạo bên ngoài. Tính hài kịchtạo ra từ sự mất cân xứng, hài hòa của nhân vật. Trong một số hài kịch, có những nhân vật tích cực thể hiện lí tưởng tiến bộ, nhưng nhìn chung nhân vật hài kịch là những nhân vật tiêu cực có nhiều thói hư tật xấu. Tiếng cười trong hài kịch có tác dụng giải thóat cho con người khỏi những thói xấu, có tác dung trau dồi phong hóa, giáo dục đạo đức và thẩm mĩ.
Chính kịch còn gọi là kịch drame, đề cập đến mọi mặt của đời sống con người, đó là con người toàn vẹn, không bị cắt xén hoặc chỉ tô đậm ở nét bi hoặc hài. Shakespeare là người đầu tiên đã thể hiện thành công cho loại kịch có sự pha trộn giữa bi và hài này. Dần dần chính kịch phát triển mạnh vì thích hợp hơn với cuộc sống và con người hiện đại.

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

TÁC PHẨM KÍ VĂN HỌC.


TÁC PHẨM   KÍ  VĂN HỌC.
                               I.                XÁC ĐỊNH PHẠM VI CỦA KÍ
                              1.                                Một vài quan niệm không hoàn chỉnh về kí
                              2.                                Giới hạn kí qua các hệ thống phân loại
                            II.                NGƯỜI THẬT, VIỆC THẬT TRONG KÍ
                              1.                                Kí trần thuật người thật
                              2.                                Kí có tính thẩm mĩ
                         III.                TÍNH CHẤT, MỨC ĐỘ, PHẠM VI HƯ CẤU CỦA TÁC PHẨM KÍ
                              1.                                Tính chất
                              2.                                Mức độ 
                              3.                                Phạm vi
                         IV.                MỘT SỐ THỂ LOẠI KÍ
                              1.                                Phóng sự
                              2.                                Kí sự
                              3.                                Hồi kí
                              4.                                Bút kí
                              5.                                Truyện kí
                                      -----------------------------------------------------
Tác phẩm  kí văn học và kí báo chí giống nhau ở chỗ đều tôn trọng tính xác thực và tính thời sự. Nhưng ở kí báo chí, tính xác thực phải được đảm bảo ở mức độ cao nhất và tính thời sự cũng mang tính chất thật cấp bách, hằng ngày. Kí văn học không đòi hỏi như vậy, ngược lại, nó đề ra yêu cầu cao hơn về chất suy nghĩ và tình cảm của chủ thể. Dĩ nhiên sự phân biệt trên chỉ có tính chất tương đối.
I. XÁC ĐỊNH PHẠM VI CỦA KÍ
Ðể có một định nghĩa tương đối chính xác về kí, cần giới hạn phạm vi phản ánh của nó.
1. Một vài quan niệm không hoàn chỉnh về kí.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kí. Theo Goulaiep, đặc trưng của kí là tính tổng hợp về đối tượng mô tả và người ta có thể tìm thấy ở đó không chỉ là những số phận mà là những bức tranh về phong tục, về đời sống kinh tế, chính trị...Ðặc trưng này thực ra có thể được xác định rõ nét hơn trong tiểu thuyết. Có người cho rằng đặc trưng của kí là ở tính chủ quan. Ðiều này có một phần căn cứ nhưng tính chất này có lẽ được chỉ rõ nhất trong tác phẩm  trữ tình. Do kí là một thể loại có tính chất ghi chép nên nhiều người cho rằng kí phản ánh người thật, việc thật. Quan niệm này được nhiều người chấp nhận nhưng vẫn chưa lí giải một cách thuyết phục tại sao lại gọi Ðất nước đứng lên, Thép đã tôi thế đấy...là tiểu thuyết mà gọi Người mẹ cầm súng, Sống như anh là Kí.Việc xác định một khái niệm đúng đắn về kí khó khăn một phần vì trong kí có nhiều loại khác nhau, phần khác vì cách gọi tên của các nhà văn đối với tác phẩm  của mình. Chẳng hạn Tây du kí của Ngô Thừa Ân là một tiểu thuyết, Nhật kí ở rừng của Nam Cao là một truyện ngắn...Muốn giải quyết vấn đề này, cần xem xét kí một cách có hệ thống.
2. Giới hạn kí qua các hệ thống phân loại.
Theo hệ thống Thơ- tiểu thuyết- kịch- kí:
Trong hệ thống này, kí buộc phải bao hàm các loại văn xuôi còn lại. Và nếu chấp nhận hệ thống Trữ tình- tự sự- kịch thì có thể, trước hết, có một số tác phẩm  giàu chất trữ tình mà từ trước đến nay thường được gọi là kí hư  tùy bút cần phải được xếp vào loại trữ tình. Bởi vì trong tùy bút, chủ yếu không phải là thồn tin sự thực. Sự thực ở đây chỉ là cái cớ để tác giử bộc lộ tâm trạng, "là cái đinh để tác giả treo lên bức tranh tình cảm của mình" (Nguyễn Tuân).
Theo hệ thống trữ tình- tự sự và kịch:
Hệ thống này hoàn toàn đúng cho văn chương thẩm mĩ mà không bao gồm hết các loại, vốn không phải là văn chương thẩm mĩ nhưng vẫn có giá trị nghệ thuật cao. Ðó là loại văn chính luận. Tuy nhiên không thể xếp văn chính luận vào kí như từ trước đến nay vì văn chính luận chủ yếu không phải nhằm thông tin sự thật mà thông tin lí lẽ. Có thể sắp xếp bút kí chính luận vào văn nghị luận. Như vậy, kí sẽ không bao gồm tùy bút và bút kí chính luận.
Qua các giới thuyết trên, kí có thể phân biệt được với kịch, trữ tình và chính luận. Như vậy, kí chỉ còn liên quan với loại tự sự. Có thể nói, kí là một loại văn tự sự hay nới như Goulaiep kí là một biến thể của loại tự sự.
So sánh kí với loại tự sự sẽ tìm ra được đặc trưng của kí.
II. NGƯỜI THẬT - VIỆC THẬT TRONG KÍ
1. Kí trần thuật người thật
Đã xãy ra một cách xác thực nhằm trước hết là thông tin sự thật chứ không phải là thông tin thẩm mĩ. Tính xác thực là đặc trưng quan trọng nhất và có tính nguyên tắc của kí. (Dĩ nhiên tính xác thực về người thật, việc thật bao hàm những tâm trạng và lí lẽ chứa đựng trong ngeoeig thật việc thật đó. Nới như Pôlêvoi "Kí có địa chỉ chính xác của nó" .
2. Kí có tính thẩm mĩ.
Xét từ bản chất và gốc gác, kí không nhằm thông tin thẩm mĩ mà là thông tin sự thật nhưng không vì vậy mà kí thiếu tính nghệ thuật. Sở dĩ kí có tính nghệ thuật bởi vì trước hết nga trong hiện thực cung đã bao hàm cái thẩm mĩ đồng thời chính nhiệt tình khát khao mong biết được sự thật cũng góp phầm tạo nên những quan hệ thẩm mĩ. Bám chặt cào người thật, việc thật, các tác phẩm  kí xét một cách tương đối có thể rút ngắn khoảng cách giữa sáng tạo nghệ thuật và cuộc sống, phục vụ kịp thời hơn cho những nhu cầu hiểu biết cuộc sống của người đọc.
III. TÍNH CHẤT, MỨC ĐỘ, PHẠM VI HƯ CẤU CỦA TÁC PHẨM KÍ
1.Tính chất.
Do đặc điểm viết về người thật- việc thật nên mục tiêu, phương hướng của người viết kí là phải luôn luôn phấn đấu theo hướng xác thực tối đa như là một ý thức trách nhiệm thông tin cho người đọc chứ không phải lad sáng tạo nên một thiên nhiên thứ hai như trong truyện.
2. Mức độ.
Tuy nhiên, đã là một tác phẩm  nghệ thuật, không thể không nói đến hư cấu. Vì vậy, có thể nói đến một số trường hợp hư cấu trong kí.
Như trên đã nói, tác phẩm  kí viết về sự thật nhưng thực ra, cứ giả định rằng, có sự thật đang "Dâng sẵn, đón chờ" và nhà văn có tư tưởng, tình cảm hoàn toàn đúng đắn chỉ việc ghi chép lại thì trước khi ghi chép, ít nhất cũng phải nghe hoặc thấy, tức là nghe kể lại hoặc chứng kiến. Trong trường hơp chứng kiến và viết lại, nhà văn vẫn không thể bao quát hết mọi sự việc hoặc nhớ hết mọi sự diễn biến một cách tường tận...Trong trường hợp nhà văn chỉ nghe kể lại mà không chứng kiến thì có thể sẽ nghe từ nhiều nguồn khác nhau- trực tiếp hoặc gián tiếp- và trong trường hợp nào, người kể cũng không thể biết hết, nhớ hết.
Vì vậy, trước khi đặt bút viết, người viết kí chỉ có một mớ tư liệu lộn xộn, nhiều lỗ hổng, chưa móc nối được tư liệu với nhau...nhà văn buộc phải sử dụng trí tưởng tượng và hư cấu nhằm làm cho bức tranh trở nên hợp lí, liên tục và hấp dẫn.
3. Phạm vi.
Người viết kí không thể tự do tưởng tượng và hư cấu thế nào cũng được. Về nguyên tắc, những thành phần xác định của người thật- việc thật (ngoại hình, tên tuổi, lai lịch, nguồn gốc gia đình...) người viết phải phấn đấu thể hiện xác thực đến mức tối đa. Nhà văn có thể hiện được hư cấu rộng rãi hơn với những thành phần không xác định (như nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên, những nhân vật phụ...) cũng như việc sắp xếp, tổ chưc hệ thống côt truyện.
Tóm lại, trong tác phẩm  kí văn học, nhà văn có thể hư cấu nhưng nhìn chung có phần hạn chế và thường ở những thành phần không xác đinh.
IV. MỘT SỐ THỂ LOẠI KÍ
1. Phóng sự
Là một loại kí đặc biệt chú trọng đến sự việc. Trong "nhà văn hiện đại" của Ngọc Phan viết "Phóng sự là thăm dò lấy sự việc và ghi lấy việc". Phóng sự nhằm phản ánh một sự kiện, hiện tượng xã hội một cách kịp thời và thường mang tính chất điều tra, phỏng vấn, một vấn đề có ý nghĩa thời sự.
Người viết phóng sự phải đáp ứng một đòi hỏi nào đó về thời sự trực tiếp của người đọc. Ơí đây nhà văn thường ít bộc lộ cảm xúc, suy tư nhưng lại mang tính khuynh hướng rõ rệt.
2.  Kí sự
Kí sự khá gần gũi với phóng sự vì nó chú trọng đên sự việc, ít yếu tố trữ tình. Kí sự ghi chép khá hoàn chỉnh 1 sự kiện, 1 phong trào, 1 giai đoạn,... gần với truyện ngắn, ít hư cấu.
3. Hồi kí
Ghi lại những sự việc đã xãy ra qua hồi tưởng. Ðó có thể là câu chuyện  mà người viết đã tham gia, chứng kiến hoặc được nghe thuật lại một cách tường tận và gắn liền với kỉ niệm của người viết hoặc kể.
Hồi kí đòi hỏi phải tôn trọng tính chân thực của câu chuyện và có sự khái quát cao.
4. Bút kí.
Nhằm ghi lại những sự việc, cảnh vật mà nhà văn đã mắt thấy, tai nghe cũng như cảm xúc, suy nghĩ của họ qua một chuyến đi. Ở đây, những sự việc luôn xen kẽ với những yếu tố liên tưởng, tưởng tượng, cảm xúc. Vì vậy, bút kí luôn  mang đâm sắc thái trữ tình.
5. Truyện kí
Là một thể loại trung gian giữa truyện và kí. Truyện kí thường tập trung cốt truyện vào một nhân vật, một danh nhân, một nhân vật lịch sử, một người anh hùng trên các mặt trận...Trong truyện kí, tác giả có thể hư cấu để câu chuyện được hoàn chỉnh nhưng phải giữ được tính xác thực của sự việc và con người.
Ranh giới của việc phân chia các thể kí nêu trên chỉ có tính chất tương đối. Các thể kí luôn luôn chuyển hóa, xâm nhập lẫn nhau. trong sáng tác, các nhà văn có thể không quan tâm đến đặc trưng của từng thể loại mà chủ yếu là vận dụng các khả năng, phương tiện của văn học nhằm thể hiện một cách tốt nhất mục đích của mình.

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

LOẠI TÁC PHẨM TỰ SỰ


LOẠI TÁC PHẨM TỰ SỰ
  1. ĐẶC ĐIỂM CỦA LOẠI TÁC PHẨM TỰ SỰ 
    1. Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính cách khách quan của nó thông qua các sự kiện hệ thống sự kiện
    2. Tác phẩm tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách rộng lớn, bao quát
    3. Tác phẩm tự sự luôn luôn có hình tượng người trần thuật
    4. Lời văn trong tác phẩm tự sự
  2. TIỂU THUYẾT, TRUYỆN VỪA, TRUYỆN NGẮN
    1. Tiểu thuyết
    2. Truyện ngắn
    3. Truyện vừa
                                      -----------------------------------------------------
I. ĐẶC ĐIỂM CỦA LOẠI TÁC PHẨM TỰ SỰ
1. Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các sự kiện, hệ thống sự kiện.
    Các nhà lí luận từ Aristote đến Lessing, Hégel, Biélinxki đều cho rằng tác phẩm tự sự đưa ra một bức tranh khách quan về thế giới. Trong Nghệ thuật thơ ca, Aristote cho rằng thế giới của tác phẩm tự sự là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật, không phụ thuộc vào ý muốn và tình cảm của họ. Ở đây, nhà văn dường như đứng bên ngoài để kể lại. Tất cả những sự việc của đời sống được nhà văn kể lại như một đối tượng khách quan ở bên ngoài mình. Chính vì vậy, tác phẩm tự sự mang tính khách quan..
Ðể có cái nhìn khách quan, tác phẩm tự sự tập trung phản ánh đời sống qua các sự kiện, hệ thống sự kiện. Vì vậy, nhiều nhà lí luận khẳng định tính sự kiện có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là đặc điểm hàng đầu của tác phẩm tự sự. Các biến cố, sự kiện này có thể là những biến cố, sự kiện bên ngoài, tức là phần tồn tại vật chất với các việc làm, hành động cụ thể có thể thấy được, cũng có thể là những biến cố, sự kiện bên trong bao gồm tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ... nhưng những biến cố, sự kiện này không được biểu hiện trực tiếp mà được xem như một đối tượng để đem ra phân tích, nhận biết.
Như vậy, tác phẩm tự sự tái hiện toàn bộ thế giới bao gồm những sự kiện bên ngoài và bên trong của con người nhưng đều xem chúng như là những sự kiện khác nhau về đời sống con người, xã hội.
2. Tác phẩm tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách rộng lớn, bao quát.
Tác phẩm tự sự miêu tả cuộc sống qua các sự kiện, hệ thống sự kiện mà sự kiện là sản phẩm của mối quan hệ giữa con người với con người, con người và môi trường xung quanh. Do đó, tác phẩm tự sự mở ra một phạm vi hết sức rộng lớn trong việc miêu tả hiện thực khách quan, được thể hiện trong nhiều mối quan hệ.
Trong tác phẩm tự sự, không gian và thời gian không bị hạn chế. Nhà văn có thể thể hiện những vùng đất khác nhau, có thể lùi về dĩ vãng hay đắm mình trong hiện tại, có thể lướt qua hoặc tập trung miêu tả một mặt nào đó mà mình cho là quan trọng. Nó có thể kể về một khoảnh khắc hoặc một sự kiện dài 10, 20, 50 năm trong một không gian nhất định hoặc ở nhiều vùng đất khác nhau.
Từ những đặc điểm trên, nhân vật tự sự cũng được khắc họa đầy đặn, nhiều mặt nhất; có thể được triển khai sâu rộng trong nhiều mối quan hệ đa dạng và phong phú. Nhân vật thường có số phận, con đường đi và quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau. so với các loại nhân vật khác, nhân vật trong tác phẩm tự sự được khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình đến nội tâm, cả quá khứ, hiện tại và trong xu thế phát triển...Tóm lại, nhân vật tự sự được miêu tả nhiều mặt, toàn diện và sinh động, nhiều màu sắc thẩm mĩ.
Do tính chất phản ánh rộng lớn và bao quát, hệ thống chi tiết trong tác phẩm tự sự cũng phong phú và đa dạng, mang chất "văn xuôi". Ở đây, có thể bắt gặp những chi tiết về chân dung, ngoại hình, tâm sinh lí, phong tục, tập quán, đồ vật, dời sống lao động sản xuất, tôn giáo, chính trị...bao gồm những chi tiết có thực, tưởng tượng, hoang đường... hơn tất cả mọi loại tác phẩm khác.
3. Tác phẩm tự sự luôn luôn có hình tượng người trần thuật.
Hình tượng người trần thuật có thể là tác giả nhưng không nên đồng nhất người trần thuật với tác giả. Người trần thuật có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: khi thì tác giả ẩn mình sau những nhân vật tưởng tượng, khi thì nhân danh chính bản thân mình mà kể chuyện với ngôi thứ nhất. Nhưng dù dưới hình thức nào, người trần thuật cũng làm nhiệm vụ tường thuật, kể chuyện để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi, bình luận, cắt nghĩa những quan hệ phức tạp giữa nhân vật và nhân vật, giữa nhân vật và hoàn cảnh...Trong tác phẩm tự sự, hình tượng người trần thuật giữ một vai trò hết sức quan trọng và luôn luôn muốn hướng dẫn, gợi ý cho người đọc nên hiểu nhân vật, hoàn cảnh...thế này hoặc thế khác.
4. Lời văn trong tác phẩm tự sự
Lời văn trong tác phẩm tự sự chủ yếu là lời văn kể chuyện, miêu tả. Nó có thể được viết bằng văn vần hoặc văn xuôi nhưng bao giờ cũng hướng người đọc đến đối tượng mà nó miêu tả.
Lời nói của nhân vật trong tác phẩm tự sự là một bộ phận của văn tự sự, do đó nó thường được giải thích, cắt nghĩa trước khi nhân vật phát biểu. Ðiều này khác với tác phẩm kịch và tác phẩm trữî tình.
II. TIỂU THUYẾT, TRUYỆN VỪA, TRUYỆN NGẮN
Phạm vi của tác phẩm tự sự hết sức rộng lớn và có thể được phân loại ở nhiều góc độ khác nhau. Dựa vào hình thức lời văn, có thể nói tới các thể loại cơ bản như  anh hùng ca, (sử thi), truyện thơ, trường ca (văn vần), tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn (văn xuôi), ngụ ngôn (thường dùng cả hai hình thức văn vần và văn xuôi). Dựa vào nội dung thể loại, có thể phân thành các tác phẩm có chủ đề dân tộc, thế sự, đạo đức, đời tư...Giáo trình này chỉ trình bày một số thể loại phổ biến trong đời sống hiện nay: tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.
1. Tiểu thuyết.
Tiểu thuyết là thể loại lớn nhất trong loại tác phẩm tự sự, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong thời kì cận và hiện đại. Ðây là thể loại không bị giới hạn về dung lượng phản ánh hiện thực, cả về không gian cũng như thời gian. Qua tiểu thuyết, người đọc có thể hiểu được một giai đoạn lịch sử với nhiều sự kiện, nhiều cảnh ngộ, địa điểm, tình huống...mà khó có thể loại nào có thể đạt được. Các yếu tố khác của tác phẩm văn học, từ đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu...cũng chịu sự chi phối của đặc điểm này.
Tuy nhiên, dung lượng hiện thực chưa phải là đặc điểm duy nhất và cơ bản nhất của tiểu thuyết mà chính là sự miêu tả cuộc sống từ góc độ đời tư. Tùy theo từng giai đoạn phát triển khác nhau, yếu tố đời tư và yếu tố lịch sử, dân tộc có thể kết hợp với nhau nhưng nếu yếu tố lịch sử dân tộc phát triển, tác phẩm sẽ gần với anh hùng ca; chất đời tư phát triển, tác phẩm sẽ đậm đà chất tiểu thuyết hơn.
        Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống trong tính chất văn xuôi. Nó thể hiện cuộc sống như một thực tại cùng thời và hấp thu vào bản thân mọi yếu tố ngỗn ngang, bề bộn của cuộc đời...bao gồm những bi-hài; cao cả-thấp hèn; vĩ đai-tầm thường, lớn-nhỏ..Chính dung lượng phản ánh hiện thực rộng lớn giúp nhà văn miêu tả nhân vật và hoàn cảnh một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉ từ những trạng thái tâm hồn cũng như những mối quan hệ đa dạng, phức tạp khác.
Tiểu thuyết là thể loại đa dạng về mặt thẩm mĩ, có khả năng tổng hợp và thu hút vào bản thân nó những đặc trưng và sắc thái thẩm mĩ của nhiều loại hình nghệ thuật khác "Ðức tính căn bản của tiểu thuyết là ăn được mọi thứ, nó đồng hóa mọi loại tác phẩm khác vào mình" (Ph. Mác xô- Nhà nghiên cứu tiểu thuyết Pháp)
2. Truyện ngắn.
    Về từ nguyên, truyện ngắn có nghĩa là một tin tức mới mẻ, sốt dẽo. Ðây là loại văn xuôi tự sự có hình thức ngắn gọn. Tuy nhiên, đặc trưng của truyện ngắn không phải chỉ vì nó ngắn mà chủ yếu là cách nắm bắt và thể hiện hiện thực cuộc sống. Nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất nào đó trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Trong truyện ngắn, nếu nhà văn đặt quá nhiều vấn đề, câu chuyện sẽ dễ bị loãng. Tập trung về sự kiện, tập trung về chủ đề, về ấn tượng là yêu cầu của truyện ngắn.
Người viết truyện ngắn luôn luôn chú ý vào một vấn đề cơ bản với sự tỉ mỉ, chi tiết, loại bỏ những gì thiếu súc tích. Maugham cho rằng: truyện ngắn cần phải viết sao cho người ta không thể bổ sung thêm vào đó chút gì cũng không thể rút bớt ra chút gì.
Nhiều người cho rằng viết truyện ngắn đơn giản và dễ hơn tiểu thuyết. Ðiều này không chính xác. Thực ra, ở đây tùy thuộc vào thiên hướng, sở thích và khả năng của từng nhà văn. Ðạt đến đỉnh cao nghệ thuật viết truyện ngắn không phải là điều dễ dàng. Có nhà văn đã viết: Hôm nay tôi không có thì giờ để viết truyện ngắn vì đây là thể loại đòi hỏi người viết phải gói trọn những băn khoăn, ấn tượng...vào trong một dung lượng có hạn.
Do dung lượng ngắn, nhân vật của truyện ngắn thường không nhiều và cuộc đời của nhân vật cũng thường chỉ được miêu tả như một khoảnh khắc, mảnh nhỏ nhưng lại có ý nghĩa trong cả cuộc đời nhân vật nên nhịp điệu truyện ngắn khẩn trương, gấp rút, có nhiều yếu tố bất ngờ, chuyển đoạn đột ngột trong giới thiệu, bố cục, kết thúc câu chuyện.
3. Truyện vừa.
Truyện vừa là thể loại tự sự cỡ trung bình, xét về dung lượng, đứng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn. Do chỗ giống nhau về phương pháp xây dựng điển hình cũng như hình thức biểu hiện nên ranh giới giữa truyện vừa và tiểu thuyết rất dễ lẫn lộn. Chẳng hạn A Q chính truyện, Xung kích, Ông già và biển cả...có người gọi là tiểu thuyết, có người chỉ cho là truyện vừa.
Ðiều phân biệt trước hết giữa truyện vừa và tiểu thuyết chủ yếu là dung lượng hiện thực, biểu hiện ở số lượng nhân vật, khuôn khổ cốt truyện và ngay cả ở số trang, thường một truyện vừa từ 150 trang trở lại. Tuy nhiên, điều cần chú ý là truyện vừa trần thuật cô đọng và súc tích hơn tiểu thuyết. Nếu như tiểu thuyết nặng về miêu tả thì truyện vừa chú ý nhiều hơn đến yếu tố thuật vì vậy dung lượng thường ngắn hơn. Như vậy, giữa truyện vừa và tiểu thuyết, ngoài dung lượng hiện thực được thể hiện còn có sự khác nhau ở nguyên tắc tái hiện hiện thực nữa.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

LOẠI TÁC PHẨM TRỮ TÌNH


LOẠI TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
  1. ÐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
    1. Tác phẩm trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người
    2. Tác phẩm trữ tình phản ánh thế giới khách quan nhằm thể hiện thế giới chủ quan
    3. Tình cảm điển hình trong tác phẩm trữ tình
    4. Nhân vật trữ tình trong tác phẩm trữ tình
    5. Lời văn trong tác phẩm trữ tình
  2. PHÂN LOẠI THƠ TRỮ TÌNH
    1. Dựa vào đặc điểm cảm xúc
    2. Dựa vào đối tượng miêu tả tạo nên cảm xúc của nhà thơ
  3. TỔ CHỨC MỘT BÀI THƠ TRỮ TÌNH
    1. Đề thơ
    2. Dòng thơ, câu thơ
    3. Khổ thơ, đoạn thơ
    4. Tứ thơ, bài thơ
                                      -----------------------------------------------------
I. ÐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA LOẠI TÁC PHẨM TRỮ TÌNH
1. Tác phẩm trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người
Nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng là sự biểu hiện thế giới chủ quan của con người trước cuộc đời. Tuy nhiên, do phương thức tổ chức, do kiểu tái hiện đời sống và do sự giao tiếp nghệ thuật khác nhau nên sự biểu hiện đó ở những loại tác phẩm văn học cũng khác nhau. Trong tác phẩm trữ tình; tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ,... được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm. Ở đây, nhà thơ có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào.
Trong ca dao:
Hôm qua tát nước đầu đình.
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải (sau này nhiều người cho là ca dao).
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.
Bốn câu thơ trên thể hiện tình cảm của người ra đi đối với quê hương, đối với người thương..., là nỗi buồn, là sự nhớ nhung lúc xa xôi cách trở. Ngoài những tình cảm, nỗi niềm đó, người đọc không biết gì cụ thể hơn về chàng trai và cô gái, về mối quan hệ cụ thể của hai người với nhau.
Bài Nguyên đán của Xuân Diệu cũng thể hiện rõ đặc điểm này:
Xuân của đất trời nay mới đến
Trong tôi xuân đến đã lâu rồi
Từ độ yêu nhau hoa nở mãi.
Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.
Trong bốn câu thơ trên, không hề có mâu thuẫn, xung đột như trong kịch, cũng không có những biến cố, sự kiện, hệ thống sự kiện nào. Ðiều mà người đọc cảm nhận chủ yếu là niềm vui, hạnh phúc, là tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình.
Như vậy, từ ca dao đến những tác phẩm thơ ca hiện đại, người đọc cảm nhận trước hết là thế giới nội tâm, là thái độ xúc cảm và tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, cuộc đời và thiên nhiên. Nhà thơ có thể không cần phải miêu tả kỹ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tình cảm đó. Ðiều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu, đầu tiên của tác phẩm trữ tình.
2. Tác phẩm trữ tình phản ánh thế giới khách quan nhằm biểu hiện thế giới chủ quan.
Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì...Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình. Chế Lan Viên đã nói lên mối quan hệ này qua những câu thơ:
- Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tát bể
Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời.
- Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi
Còn một nửa cho mùa thu làm lấy.
Người ta có thể bắt gặp một bài thơ miêu tả một bức tranh phong cảnh thiên nhiên. Trong bài Ðây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử, ngoài những nét chấm phá về một bức tranh thiên nhiên với những vẻ đẹp nhẹ nhàng, tinh tế...là tâm trạng và cảm xúc của nhà thơ.
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ơí đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà.
(Ðây thôn Vĩ Giạ. Hàn Mặc Tử.)
Có những bài thơ có ít nhiều sự kiện khá liên tục- đó là những câu chuyện được kể lại một cách ngắn gọn. Những sự kiện, biến cố ở đây không được miêu tả chi tiết, tỉ mỉ...mà được thể hiện hết sức cô đọng. Các bài thơ Mưa xuân của Nguyễn Bính, Núi Ðôi của Vũ Cao, Bà má Hậu Giang của Tố Hữu...nằm trong trường hợp này. Qua bài Quê hương của Giang Nam, người đọc có thê kể một số nét chính về mối quan hệ giữa chàng trai và cô gái một cách khá liên tục nhưng chức năng chủ yếu của hệ thống sự kiện đó là để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc, suy tưởng. Chúng làm cho tình cảm được bộc lộ dễ dàng, gợi cảm.
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm.
Có những lần trốn học bị đòn roi
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
(Quê hương- Giang Nam.)
Mặc dù thể hiện thế giới chủ quan của con người, tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động. Những chi tiết chân thật, sinh động trong đời sống dễ khêu gợi những tình cảm sâu sắc, mới mẻ. Có điều những chi tiết trong tác phẩm trữ tình bao giữ cũng hết sức cô đọng, súc tích.
Như vậy, tác phẩm trữ tình cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu hiện những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ ...của con người.
3. Tình cảm điển hình trong tác phẩm trữ tình.
Tác phẩm trữ tình bao giờ cũng mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ. Ðó là những nỗi niềm chủ quan thầm kín nhưng khi sáng tác nhà thơ luôn luôn nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cho một loại người, một thế hệ và cả những chân lí phổ biến...Người ta thường nói đến từ chân trời của cái "tôi" đến chân trời của cái "ta", "từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả" cũng trên ý nghĩa này. Biêlinnki đã diễn đạt điều đó bằng một câu nói hàm súc: "Bất cứ thi sĩ nào cũng không thể trở thành vĩ đại nếu chỉ do ở mình và miêu tả mình - dù là miêu tả những nỗi đau của mình hay những hạnh phúc của mình. Bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là vì những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ hoãng sâu thẳm của lịch sử xã hội, bởi vì họ là khí quan và đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại".
Tóm lại, trong tác phẩm trữ tình, nhà thơ trực tiếp bộc lộ những tình cảm yêu thương, căm giận của mình trước hiện thực cuộc đời. Ởí đây, tình cảm riêng tư của nhà thơ bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng tạo nên giá trị của tác phẩm. Những tác phẩm trữ tình có giá trị được người đọc yêu mến xưa nay bao giờ cũng thắm đẫm suy tư và dằn vặt của cá nhân nhưng đồng thời cũng đánh động tình cảm, tâm trạng ...của cả một lớp người, một thời đại nhất định.
4. Nhân vật trữ tình trong tác phẩm trữ tình.
Nội dung tác phẩm trữ tình gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình (có người gọi là chủ thể trữ tình). Ở đây, cần phân biệt rõ 2 khái niệm: nhân vật trữ tình và nhân vật trong tác phẩm trữ tình. Nhân vật trong tác phẩm trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm sự, cảm xúc, suy nghĩ ...của mình, là nguyên nhân trực tiếp khêu gợi nguồn cảm hứng cho tác giả. Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ miêu tả mà chính là những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư...về lẽ sống và con người được thể hiện trong tác phẩm. Khi đọc một bài thơ, trước mắt chúng ta không chỉ xuất hiện những cảnh thiên nhiên, sinh hoạt, những con người mà còn một hình tượng của một ai đó đang ngắm nhìn, rung động, suy tư về chúng, về cuộc sống nói chung. Hình tượng ấy chính là nhân vật trữ tình. Ðó là tâm hồn, nỗi niềm, tấm lòng...mà người đọc cảm nhận được qua tác phẩm thơ ca.
Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là những tình cảm, tâm trạng, suy tư... của chính bản thân nhà thơ. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả. Do tính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật trữ tình theo qui luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật. Có thể coi đây là những nhân vật trữ tình nhập vai.
5. Lời văn trong tác phẩm trữ tình.
Là hình thức của tác phẩm văn học, lời thơ cũng như lời của tác phẩm tự sự và kịch đều mang tính chính xác, gợi cảm, hình tượng, hàm súc. Tuy nhiên, lời thơ cũng có những đặc điểm riêng.
Trước hết, đó là lời của chủ thể, thường bộc lộ trực tiếp sự đánh giá, nhận xét  về đối tượng, trực tiếp thể hiện cảm xúc ca ngợi, khẳng định hoặc phê phán, phủ định. Chính vì vậy, sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong tác phẩm trữ tình- chủ yếu là trong thơ- luôn luôn nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán của chủ thể trở nên nổi bật.
Lời văn trong tác phẩm trữ tình đòi hỏi bộc lộ những tình cảm mạnh mẽ, những ý tập trung, hàm súc do đó nó phải tìm cho mình những lời văn phù hợp với yêu cầu gây ấn tượng mạnh, không phải chỉ bằng ý nghĩa của từ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ nữa. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người khẳng định đặc điểm quan trọng nhất của lời văn trong tác phẩm trữ tình là  giàu nhạc tính. Nhạc tính này, do đặc điểm ngôn ngữ của từng dân tộc, được biểu hiện khác nhau. Trong thơ Việt Nam, tính nhạc thường được biểu hiện ở các mặt: sự cân đối, trầm bỗng, nhịp nhàng và trùng điệp.
II. PHÂN LOẠI THƠ TRỮ TÌNH.
Phạm vi của tác phẩm trữ tình rất rộng. Có thể kể đến các khúc ngâm, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc. Những đặc điểm chung của tác phẩm trữ tình được biểu hiện tập trung và tiêu biểu nhất là trong tác phẩm thơ trữ tình.
Tùy theo truyền thống thơ ca của từng nước, người ta có nhiều cách phân loại thơ trữ tình khác nhau. Ở phương Tây, có những cách phân loại:
1. Dựa vào đặc điểm cảm xúc:
Có thể chia thành bi ca, tụng ca, thơ trào phúng.
- Bi ca: là những bài thơ buồn và những nỗi buồn đó được nâng lên thành quan niệm, thành triết lí. Chẳng hạn, trong bài Hoa nở để mà tàn, Xuân Diệu viết:
Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết
Bèo hợp để chia tan
Người gần để li biệt.
- Tụng ca là những bài thơ ca ngợi những sự kiện anh hùng, những chiến công của con người, những cảnh tượng hùng vĩ của non sông đất nước. Nhiều bài thơ của Chế Lan Viên, Tố Hữu có thể được coi là tụng ca.
- Thơ trào phúng là một dạng trữ tình đặc biệt, trong đó tác giả phủ nhận những điều xấu xa bằng một giọng văn châm biếm, mĩa mai, trào lộng. Nhiều bài thơ của Tú Xương, Tú Mỡ,... thuộc loại này.
2. Dựa vào đối tượng miêu tả tạo nên cảm xúc của nhà thơ.
Có thể phân thơ trữ tình thành các loại: trữ tình tâm tình, trữ tình thế sự, trữ tình công dân, trữ tình phong cảnh.
- Trữ tình tâm tình là những bài thơ gắn liền với những tình cảm trong mối quan hệ hằng ngày: tình yêu nam nữ, tình vợ chồng, tình cha mẹ, anh em...
- Trữ tình thế sự: là những bài thơ nghiêng về những xúc động về cuộc đời với tính chất "nhân tình thế thái"
Trong những thời kì lịch sử có nhiều biến đọng, nhiều giá trị chưa được xác định rõ ràng, thơ trữ tình thế sự gợi ý cho người sọc những suy tư, băn khoăn, trăn trở về thực trạng xã hội. Nhiều bài thơ của Nguyễn Bĩnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương...là những tiếng nói trữ tình thế sự có giá trị.
- Trữ tình công dân là những bài thơ nói lên những cảm xúc, tình cảm, suy tư của nhà thơ trong mối quan hệ với xã hội, với chế độ chính trị...Ở đây, nhà thơ lấy tư cách công dân để cổ vũ, ca ngợi sự nghiệp của nhân dân và lên án kẻ thù chung. Nhiều bài thơ trong văn học Việt Nam giai đoạn chống Pháp, chống Mĩ thuộc loại này.
- Trữ tình phong cảnh là những bài thơ nói lên những cảm xúc của con người với thiên nhiên: cây cỏ, núi non, sông biển, cảnh đẹp của quê hương, đất nước.
Những sự phân loại thơ trữ tình trên đây chỉ có tính chất tương đối. Thế giới nội tâm của con người vô cùng phong phú, phức tạp, tinh tế và có trăm nghìn mối quan hệ khó có thể phân biệt một cách rạch ròi. Trong trữ tình tâm tình cũng có trữ tình phong cảnh, trữ tình thế sự, trữ tình công dân và ngược lại. Ơí đây, sự phân loại chỉ nhằm giúp người đọc nhân ra cảm hứng chủ đạo, khuynh hướng nghệ thuật của nhà thơ.
III. TỔ CHỨC MỘT BÀI THƠ TRỮ TÌNH.
1. Ðề thơ.
Nơi thể hiện tinh thần cơ bản của nội dung bài thơ, gợi ý cho người đọc hiểu chủ đề chính của bài thơ, giúp họ nhớ và phân biệt với hững bài thơ khác. Cũng có khi có những bài thơ không có đề (vô đề). Ơí đây, có thể tác giả muốn để người đọc, qua nôi dung bài thơ, suy ngẫm và tưởng tượng mà tự hiểu. Ðề thơ có thể chỉ nên được coi như một định hướng để hiểu đúng bài thơ.
2. Dòng thơ, câu thơ.
Dòng thơ là đặc điểm quan trọng nhất của sự tổ chức ngôn ngữ thơ. Trong các thể thơ cách luật, số chữ mỗi dòng có sự qui định chặt chẽ. Ơí thơ tự do, không có sự qui định đó nhưng thường mỗi dòng thơ cũng không quá 12 chữ.
Câu thơ là dòng thơ diễn đạt trọn vẹn một ý. Thông thường, mỗi câu thơ là một đìng thơ. tuy nhiên, có khi hai ba dòng thơ mới thành một câu thơ:
Ơi! Kháng chiến, mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường. (Chế Lan Viên)
3. Khổ thơ, đoạn thơ
Sự kết hợp của các câu thơ thành từng nhóm thống nhất với nhau về vần, nhịp, cú pháp, ngữ điệu. Mỗi khổ thơ được kết thuc bằng một khoảng nghỉ dài. Trong những bài thơ ngắn, mỗi khổ thơ có thể là một đoạn thơ nhưng trong nhiều trường hợp, nhiều khổ thơ mới thành một đoạn thơ.
Ðoạn thơ là sự tập họp nhiều câu thơ chằm diễn đạt một ý tương đối trọn ven, hoàn chỉnh. Sự phân đoạn một bài thơ chủ yếu dựa vào ý chứ không phụ thuộc vào vần, bhịp, cú pháp như khổ thơ. việch phân đoạn dựa vào ý thơ là một yếu tố khó xác định nên các nhà nghiên cứu có thể có sự phân đoạn các bài thơ cụ thể không giống nhau.
4. Tứ thơ, Bài thơ.
Tứ  thơ  là ý lớn xuyên suốt bài thơ nhưng ý ấy không được nói thẳng ra mà hòa quyện, biến hóa qua hình tượng có nhiều tìm tòi, sáng tạo của nhà thơ. Nói cách khác, một bài thơ có tứ là một bài thơ có tìm tòi, sáng tạo về mặt thể hiện ý của toàn bài một cách mới mẻ, thú vị. Tứ thơ thể hiện đậm nét cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ... của nhà thơ.
Bài thơ là một tác phẩm hoàn chỉnh, có cấu trúc nội tại, là sự tổng hợp từ đề thơ, dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, tứ thơ. Mỗi bài thơ có độ dài ngắn khác nhau và dĩ nhiên giá trị của mỗi bài thơ phụ thuộc vào nội dung tư tưởng va hình thức nghệ thuật của nó chứ không phải ở chỗ ngắn dài.