Sống trong đời sống cần có một tấm lòng!

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng!

Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ NAM CAO


1.      Vài nét về tác giả
Nam Cao (1915-1951) là trí thức tiểu tư sản nghèo, sống gắn bó với con người nghèo khổ và hiểu họ một cách sâu sắc.
Nam Cao là một nhà văn lớn của trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930-1945 ở nước ta. Sau cách mạng, ông là người tham gia kháng chiến một cách tích cực, nhanh chóng hòa mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh của dân tộc. Ông hy sinh trong một trận bị phục kích trên đường công tác giữa lúc tài năng đang chín rộ và đầy hứa hẹn.
Cho đến bây giờ cuộc đời và tác phẩm của Nam Cao vẫn còn mang tính thời sự. Những tác phẩm của ông được đánh giá cao và được nhận định là “chúng ta vẫn chưa hiểu hết giá trị sâu xa của chúng”.
2.      Thành tựu sáng tác
Nam Cao luôn băn khoăn, day dứt về con người và số phận con người trong mọi hoàn cảnh. Đối tượng mà ông quan tâm hết sức phong phú và đa dạng. Họ có thể là người nông dân bần cùng sống thoi thóp trong lòng xã hội; người nông dân bị lợi dụng, bị biến thành kẻ lưu mang sống bên lề của xã hội hay một người trí thức bị “cơm áo ghì sát đất”.
Nam Cao bắt đầu xuất hiện trên văn đang vào năm 1936 nhưng sự nghiệp văn chương của ông phải đến năm 1941 – khi tác phẩm Chí Phèo ra đời mới được khẳng định.
Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao chủ yếu sáng tác về 2 chủ đề chính:
a.      Người nông dân trước Cách mạng
Phản ánh tình trạng người nông dân nghèo khổ bị lăng nhục, bị miệt thị, bị xúc phạm nhân phẩm, bóp méo nhân cách. Nam Cao lớn tiếng bênh vực và minh oan cho họ.
Nam Cao xây dựng hai loại nhân vật nông dân: người nông dân bị khốn cùng, chịu đừng và chịu chết để giữ nhân phẩm (Lão Hạc) và người nông dân bị đày đọa, bị bóp méo cả nhân hình lẫn nhân tính (Chí Phèo).
Nam Cao khẳng định bản chất lương thiện của người nông dân ngay cả khi bọn họ bị đày đọa đền u mê lầm lỗi (Chí Phèo).
b.      Người trí thức tiểu tư sản
Phản ánh tình trạng người trí thức nghèo vì miếng cơm manh áo mà rơi vào cảnh bi kịch tinh thần. Họ là những con người muốn sống cho ra người nhưng cuộc sống tồi tệ đã đẩy họ vào cách sống tầm thường, nhục nhã (Hộ, Thứ).
Viết về những con người “sống mòn” luôn dằn vặt, sám hối, quằn quại trong nội tâm, cố viên lên để cuộc sống có ý nghĩa nhưng bị sức nặng của cơm áo đè bẹp nên tâm hồn lúc nào cũng nặng trĩu bi kịch (Trăng sáng, Đời thừa,…)
3.      Quan điểm nghệ thuật
Nam Cao sáng tác với ý thức sâu sắc về trách nhiệm xã hội của nhà văn là “vị nhân sinh”. Ông vạch trần tội ác của các thế lực đày đọa con người và lớn tiếng tố khổ cho những người nông dân bị cướp quyền sống, minh oan cho những người bị lăng nhục, kêu cứu cho những người bị tước đoạt nhân phẩm (Chí Phèo, Một bữa no, Tư cách mõ,…)
Nhà văn phủ nhận, từ chối nghệ thuật thoát ly cuộc sồng “nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối…” (Trăng sáng).
Nhà văn tôn thờ chủ nghĩa hiện thực, lý tưởng nhân đạo. Nam Cao yêu cầu văn nghệ phải hướng đến hiện thực cuộc sống, nhất là cuộc sống của những con người lầm than, cơ cực: “nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp sống lầm than” (Trăng sáng). Ông cho rằng tác phẩm văn chương chỉ có giá trị ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bằng,… và làm cho con người ta gần nhau hơn. Nam Cao cũng đặt ra yêu cầu đối với một nhà văn chân chính: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa ai có” (Đời thừa).


Không có nhận xét nào: